Đức Maria Mẹ Thiên Chúa
Bookmark and Share

Lectio Divina Đức Maria Mẹ Thiên Chúa

Chúa Nhật 01/01/2012

 

1. Lời nguyện mở đầu


Lạy Chúa Giêsu, xin hãy sai Thánh Thần Chúa đến giúp chúng con đọc Thánh Kinh bằng chính tinh thần mà Chúa đã đọc cho các môn đệ trên đường đi Emmau. Dưới ánh sáng của Lời Chúa, Chúa đã giúp các môn đệ khám phá ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong những biến cố đau thương của cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa. Nhờ đó, thập giá tưởng chừng như dập tắt đi mọi hy vọng, nay lại trở nên nguồn mạch sự sống và sự sống lại cho các môn đệ và cho chúng con.

Xin Chúa hãy tạo nên trong chúng con sự thinh lặng để chúng con có thể nghe được tiếng nói của Chúa, trong tạo vật và trong Thánh Kinh, trong các biến cố và trong con người, và trên hết trong những người nghèo và người đau khổ. Xin Lời Chúa hướng dẫn chúng con để cả chúng con nữa, giống như hai môn đệ làng Emmau, cũng cảm nghiệm được sức mạnh của sự phục sinh của Chúa và để chúng con làm chứng cho tha nhân rằng Chúa vẫn đang sống ở giữa chúng con và là nguồn mạch của tình huynh đệ, của công lý và bình an. Chúng con cầu xin Chúa, lạy Chúa Giêsu, Con của Đức Nữ Trinh Maria, Đấng đã mạc khải cho chúng con biết Chúa Cha và sai Thánh Thần của Chúa đến cho chúng con. Amen. 

 

2. Đọc Bản Văn

 

a) Chìa khoá đọc bản văn: 

Cuộc kiểm tra dân số do hoàng đế Rôma ban hành chính là lý do khiến Thánh Giuse và Đức Maria phải lên đường về Bêlem (Lc 2,1-7). Cứ theo định kỳ nhà cầm quyền Rôma lại ra sắc lệnh kiểm tra dân số trong các vùng miền của đế quốc mênh mông này. Họ phải đăng khai nhân khẩu để nhà nước đánh thuế. Người giàu phải đóng thuế về nhà đất, tài sản. Còn người nghèo phải đóng thuế theo số con cái họ có. Đôi khi mức thuế lên đến hơn 50% thu nhập của một người.

Trong Phúc Âm thánh Luca, chúng ta ghi nhận có sự khác biệt giữa trình thuật về việc Gioan Tẩy Giả sinh ra và việc Chúa Giêsu sinh ra. Gioan sinh ra tại quê nhà, ở giữa cha mẹ bà con và hàng xóm láng giềng đến chia vui (Lc 1,57-58). Còn Chúa Giêsu sinh ra ở một nơi xa lạ, không ai biết, không bà con lối xóm. “Không có chỗ cho họ trong nhà trọ.” Ngài phải sinh ra trong máng ăn của súc vật (Lc 2,7).

Trình thuật còn được đặt trong một ngữ cảnh rộng hơn: cuộc viếng thăm của những người chăn chiên (Lc 2,8-21). Khi đọc bản văn, chúng ta hãy chú ý đến điều này: Chúng ta có nhận thấy điểm bất ngờ nào, điểm tương phản nào trong bản văn không?

 

b) Phân đoạn: 

Lc 2,8-9: Các người chăn chiên ngoài đồng là những người đầu tiên được mời gọi

Lc 2,10-12: Lời loan báo Tin Mừng đầu tiên là dành cho những người chăn chiên đó

Lc 2,13-14: Lời ngợi khen của các thiên thần

Lc 2,15-18: Các người chăn chiên đi đến Bêlem và thuật lại thị kiến về các thiên thần

Lc 2,19-20: Thái độ của Đức Maria và của những người chăn chiên trước những biến cố đó

Lc 2,21: Việc cắt bì cho Hài nhi Giêsu


c) Đọc Phúc Âm Lc 2,8-21 


8-9
Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. 10-12 Nhưng sứ thần bảo họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ."

13-14 Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương."

15-18 Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: "Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết." Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này. Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.

19-20 Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng. 20 Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.

21 Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ.

 

3. Phút cầu nguyện thinh lặng

Dành thời gian thinh lặng, chìm sâu trong bầu khí cầu nguyện để Lời Chúa thấm nhập và soi sáng tâm hồn.

 

4. Câu hỏi gợi ý

a) Bạn thích nhất điều gì trong bản văn này? Tại sao?

b) Bạn nhận thấy điều gì bất ngờ và tương phản trong bản văn này?

c) Bằng cách nào bản văn này dạy chúng ta rằng những người bé mọn là những người nghèo khó nhất dưới đất nhưng lại là người lớn trên trời?

d) Đâu là thái độ của Đức Maria và của các nguòi chăn chiên khi đứng trước mầu nhiệm của Thiên Chúa được mạc khải cho họ?

e) Đâu là sứ điệp mà Luca muốn chuyển đạt cho chúng ta qua những chi tiết đó?

5. Tìm hiểu bản văn

a) Ngữ cảnh bản văn

Bản văn phụng vụ của lễ Mẹ Thiên Chúa chỉ là một phần của trình thuật mở rộng hơn về việc Chúa Giáng Sinh (Lc 2,1-7) và về cuộc viếng thăm của các người chăn chiên (Lc 2,8-21). Thiên thần đã loan báo việc Đấng Cứu Thế mới sinh và đã ban cho một dấu chỉ để nhận biết: “Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ." Họ đang mong đợi Đấng Cứu tinh cho toàn dân thế mà nay họ lại gặp một đứa bé mới sinh, nghèo nàn nằm trong máng ăn của súc vật. Thật bất ngờ! Chương trình của Thiên Chúa được thực hiện một cách đầy bất ngờ. Điều đó đối với ngày nay cũng bất ngờ như thế. Một đứa trẻ nghèo mạt lại là Đấng Cứu tinh của toàn dân sao? Liệu bạn có thể tin được điều đó không?

 

b) Chú giải bản văn

Lc 2,8-9: Các người chăn chiên ngoài đồng là những người đầu tiên được mời gọi

Các người chăn chiên là những người bị gạt ra ngoài rìa xã hội. Họ không được hoan nghênh lắm. Họ sống với đoàn vật, bị tách biệt khỏi những thành phần khác của xã hội. Vì thường xuyên đụng chạm đến súc vật, nên họ bị coi là không thanh sạch. Không ai muốn mời họ đến thăm một em bé mới sinh. Nhưng lời loan báo tin vui vĩ đại về Hài nhi Giêsu mới sinh thì các thiên thần Chúa lại nhắm gửi đến họ đích danh. Nhìn thấy các thiên thần họ tràn ngập sợ hãi.

Lc 2,10-12: Lời loan báo Tin Mừng đầu tiên là dành cho những người chăn chiên đó

Lc 2,13-14: Lời ngợi khen của các thiên thần

Một đoàn đông đảo các thiên thần từ trời xuất hiện. Ở đây, chính trời cao nghiêng mình xuống đất thấp. Lời ngợi khen này tóm tắt tất cả chương trình của Thiên Chúa. Phần đầu của bài ca đó cho biết điều đang diễn ra trên trời cao: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời.” Phần sau cho biết điều đang xảy ra dưới đất này: Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương." Mọi sự sẽ được đổi mới và hoà bình sẽ ngự trị trên trái đất này. Điều đó sẽ làm cho Thiên Chúa Đấng ngự trên trời cao càng vinh danh hơn!

Lc 2,15-18: Các người chăn chiên đi đến Bêlem và thuật lại thị kiến về các thiên thần

Lời Chúa không còn đơn thuần là một tiếng nói thốt ra nơi miệng, mà trên hết đó là một biến cố trọng đại. Trong tiếng Do thái, từ DABAR vừa có nghĩa là Lời và vừa có nghĩa là sự kiện được thực hiện từ lời nói. Lời Chúa có sức sáng tạo, làm ứng nghiệm chính lời đã nói. Khi sáng tạo, Thiên Chúa phán: “Hãy có ánh sáng, thì liền có ánh sáng!” (St 1,3). Lời của thiên thần nói với các người chăn chiên cũng chính là sự kiện Chúa Giêsu sinh ra.

Lc 2,19-20: Thái độ của Đức Maria và của những người chăn chiên

Ngay sau khi tường thuật biến cố, Luca ghi thêm: Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.” Đây chính là hai cách đón nhận Lời Chúa. (1) Những người chăn chiên “hối hả ra đi” sang Bêlem để kiểm chứng dấu hiệu các thiên thần loan báo, và rồi họ trở lại với đàn chiên “tôn vinh ca tụng Thiên Chúa” vì những điều họ đã nghe và đã thấy. (2) Còn Đức Maria thì cẩn thận ghi nhớ tất cả những biến cố ấy và “suy đi nghĩ lại trong lòng.” Suy đi nghĩ lại những điều đó trong lòng có nghĩa là nghiền ngẫm những biến cố đó và rọi ánh sáng của Lời Chúa chúng để thấu hiểu hơn ý nghĩa tròn đầy của chúng đối với cuộc sống.

Lc 2,21: Việc cắt bì cho Hài nhi Giêsu

Theo luật định, hài nhi Giêsu được cắt bì sau khi sinh được tám ngày (x. St 17,12). Việc cắt bì là dấu hiệu thuộc về dân riêng Chúa. Nó là căn cước của mỗi người. Trong dịp này con trẻ cũng được đặt tên (x. Lc 1,59-63). Hài nhi được đặt tên là Giêsu, tên mà thiên thần đã đặt trước khi Mẹ Ngài thụ thai. Thiên thần cũng đã báo cho Giuse rằng con trẻ sẽ phải được gọi là Giêsu vì “Người sẽ cứu dân mình khỏi tội” (Mt 1,21). Tên Giêsu cũng là một với tên Giosuê có nghĩa là “Thiên Chúa sẽ cứu độ.” Một cái tên khác dần dà sẽ được gán cho Ngài đó là tên “Kitô” có nghĩa là “Đấng được xức dầu” còn được gọi là “Mêsia.Đức Giêsu chính là Đấng Mêsia được dân chúng mong mong đợi. Ngài còn một tên nữa là Emmanuel nghĩa là “Thiên Chúa ở với chúng ta” (Mt 1,23). Như thế tên đầy đủ của Ngài là Giêsu Kitô Emmanuel!

 

c) Một số chú giải mở rộng

1) Chỗ đứng của hai chương đầu của Phúc Âm theo thánh Luca

Đây là hai chương được khá nhiều người biết đến nhưng hiểu được thì không bao nhiêu. Thánh Luca viết hai chương này theo cung cách của Thánh Kinh Cựu Ước. Có vẻ như hai chương này là những điều cuối cùng của Cựu Ước để mở cửa bước vào Tân Ước. Trong những chương này, Luca tạo ra một khung cảnh êm dịu và ca tụng. Từ đầu tới cuối vang lên lời ca ngợi lòng thương xót Chúa vì cuối cùng thì Ngài đã đến để hoàn tất lời hứa. Luca cho chúng ta thấy Chúa Giêsu đã ứng nghiệm Cựu Ước và khởi đầu Tân Ước như thế nào. Và Ngài làm như vậy là vì những người nghèo, những anawim là những người biết phải chờ đón Chúa đến như thế nào, đó là những Êlisabét, Dacaria, Maria, Giuse, Simên, Anna và các người chăn chiên. Đó lý do tại sao hai chương đầu này có lịch sử tính nhưng không phải là lịch sử theo nghĩa chúng gán nghĩa ngày nay. Đối với các Kitô hữu gốc dân ngoại, là những độc giả mà Luca nhắm tới, hai chương này không đơn thuần là tấm gương giúp họ khám phá ra chân dung của Chúa Giêsu và việc Ngài đến để hoàn tất lời tiên tri trong Cựu Ước, hầu đáp lại những khát vọng sâu xa nhất của trái tim nhân loại. Chúng còn là tấm gương phản chiếu những biến cố xảy ra cho các cộng đoàn tín hữu trong thời đại của Luca. Những cộng đoàn xuất xứ từ dân ngoại sẽ được sinh ra từ những cộng đoàn trở lại từ Do Thái. Nhưng có những khác biệt. Tân Ước không đáp lại những gì Cựu Ước hình dung và mong đợi. Có những “dấu hiệu chống báng” (Lc 2,34), những sự căng thẳng đối kháng và đau khổ. Qua thái độ của Đức Maria, Luca trình bày một gương mẫu cho các cộng đoàn làm thế nào để ứng xử và kiên vững trong Tân Ước.

2) Chìa khoá để đọc hai chương đầu Phúc Âm Luca

Trong hai chương này, Luca trình bày Đức Maria như gương mẫu cho đời sống của cộng đoàn. Chìa khoá ngài trao cho chúng ta trong đoạn nói về người đàn bà ở giữa đám đông ca ngợi Mẹ của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu chỉnh lại lời ca ngợi đó và nói: “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,27-28). Sự cao cả của Đức Maria là ở chính tại điểm này. Ở giữa dòng đời Đức Maria biết làm thế nào để liên kết với Lời Chúa thì cũng ở ngay giữa dòng đời đó, các cộng đoàn tín hữu nghiền ngẫm con đường liên kết với Lời Chúa, đó là đón nhận và đồng hoá với Lời, thực thi, suy gẫm và đào sâu Lời, làm cho Lời được sinh ra và lớn lên, và để mình được Lời tăng cường sức mạnh ngay cả khi mình chưa thấu hiểu được Lời hay khi mình phải chịu đau khổ vì Lời. Cách sống liên kết với Lời Chúa đó là điểm nhấn cho hai chương đầu của Phúc Âm Luca cũng là điểm nhấn nói về Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu

3) Áp dụng cho các bản văn

(1). Lc 1,26-38: Truyền Tin: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”

Mở lòng mình đón nhận và đồng hoá với Lời Chúa.

(2). Lc 1,39-45: Thăm Viếng: “Em thật có phúc vì đã tin.”

Nhận thức được Lời trong những biến cố của cuộc sống.

(3). Lc 1,46-56: Magnificat: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.”

Bài ca ngợi của lòng trông cậy.

(4). Lc 2,1-20: Giáng Sinh:Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.”… “Không có chỗ cho họ trong nhà trọ.”

Những người bé mọn được đón nhận Lời.

(5). Lc 2,21-32: Dâng Chúa trong đền thờ: “Mắt tôi đã được thấy ơn cứu độ.”

Tuổi đời soi sáng tầm mắt.

(6). Lc 2,32-38: Simêon và Anna: “Một lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn bà.”

Thân phận người Kitô hữu là dấu hiệu chống báng.

 

 

6. Cầu nguyện

 

a) Tv 23

CHÚA là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.

Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.

Người đưa tôi tới dòng nước trong lành

và bổ sức cho tôi.

Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính

vì danh dự của Người.

Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u

con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.

Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm.

Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù.

Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,

ly rượu con đầy tràn chan chứa.

Lòng nhân hậu và tình thương CHÚA

ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,

và tôi được ở đền Người

những ngày tháng, những năm dài triền miên.

 

b) Lời nguyện kết thúc

Lạy Chúa Giêsu, chúng con cám tạ Chúa đã ban Lời giúp chúng con hiểu biết thánh ý Chúa Cha hơn. Xin Thánh Thần Chúa soi sáng hành động của chúng con và ban cho chúng con sức mạnh để thực hành những gì Lời Chúa đã tỏ cho chúng con biết. Xin giúp chúng con noi gương Đức Maria, Mẹ Chúa, không chỉ nghe suông mà còn biết đem Lời Chúa ra thực hành. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị cùng với Chúa Cha hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

 

7. Chiêm Niệm

Trong thinh lặng, phó dâng tất cả tâm trí mình cho Chúa, để nhờ Lời của Ngài biến đổi chúng ta thành con người mới luôn sẵn sàng làm theo ý Chúa. “Này anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành thì thật phúc cho anh em!” (Ga 13,17)

(nguồn: ocarm.org)

Posted by Administrator on Sun, Jan 01 2012 07:12:00